Có những tình cảm mộc mạc và giản dị bắt đầu từ một câu hát vu vơ, hay cất lên từ một lời ru ban trưa ngọt lành bầu sữa mẹ, hay từ một nỗi buồn rất khẽ mà ta bỗng bắt gặp khi lật giở từng trang “Truyện Kiều”. Dự án văn học “Tiếng tơ lòng” sinh ra từ những rung động như thế. Nó không đi tìm văn học như một khái niệm xa vời mà chạm vào văn học bằng cách chạm vào ký ức thiêng liêng, nơi văn học dân gian cùng dấu ấn bất tử của đại thi hào Nguyễn Du gặp gỡ và hòa quyện – âm thầm mà mạnh mẽ, là nhịp cầu nối dài quá khứ đến hiện tại. “Tiếng tơ lòng” là sự chung sức của hai tập thể lớp 10CV và 11CV tại Trường THPT Chuyên Trần Đại Nghĩa – được báo cáo tại Phòng họp 2 vào sáng ngày 01 tháng 04 năm 2026.
Với những kiến thức các bài học:
Khối 10
– Chuyên đề chuyên sâu 4: Đặc trưng văn học dân gian Việt Nam.
– Chuyên đề học tập 1: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian
Khối 11
– Bài 7. Những điều trông thấy (Nguyễn Du và tác phẩm), Ngữ vǎn 11, tập hai.
– Chuyên đề học tập 1: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về vấn đề văn học Trung đại.
– Chuyên đề học tập 3: Đọc, viết và giới thiệu về một tác giả văn học.
tập thể 10CV, 11CV đóng vai trò Công ty truyền thông CV TĐN được Sở Văn hoá thông tin TP. HCM giao nhiệm vụ tổ chức Ngày hội văn hoá Mùa xuân 2026, với 8 sản phẩm cụ thể được trình bày qua 3 phần của Không gian lễ hội:

Phần 1: Khởi nguyên – Mạch ngầm phù sa
- Sách nổi “Thanh âm cội nguồn”
- Mô hình Truyện Kiều “Bức họa tơ tình”
- Tạp chí văn học “Vọng miền tơ”
- Báo cáo nghiên cứu khoa học về đề tài Vẻ đẹp của một số biểu tượng trong ca dao Việt Nam – “Dệt hồn ca dao”
Phần 2: Diễn xướng – Cung đàn trăm năm
- Tiết mục “Lời ru đất mẹ”
- Ca khúc “Đêm uyên ương”
Phần 3: Giao thoa – Di sản trong nhịp sống
- Chương trình Cửa số văn học
- Kiều mộng quán – Gieo quẻ nhân sinh
Đối với các bạn học sinh thực hiện dự án, “Tiếng tơ lòng” không đơn thuần là một nhiệm vụ học tập mà là chuyến đi khám phá thế giới văn học đầy nhiệm màu. Ba phần chính là những gam màu riêng biệt. Tuy khác nhau về cách thể hiện song cùng hướng về một khát vọng chung: làm sống lại vẻ đẹp của văn học dân gian và văn học trung đại.
Chương trình khẽ mở trong nhịp điệu chậm rãi, như một dòng chảy êm đưa người xem trở về với sự lắng nghe. Ở đó, văn học dân gian hiện lên không phải như những điều đã cũ, mà như một lớp phù sa âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn qua năm tháng. Những câu ca dao, những lời hát tưởng chừng quen thuộc bỗng mang một sức sống khác khi được đặt vào những hình thức thể hiện mới.
Taị buổi tọa đàm hôm ấy, “Thanh âm cội nguồn” gợi ra cảm giác chạm vào ký ức – nơi từng trang sách mở ra không gian của lời ru, của đồng dao, của những miền tuổi thơ đã từng đi qua. Đến với “Họa tơ tình”, câu chuyện trong “Truyện Kiều” không còn nằm trên trang giấy. Những lát cắt cuộc đời nàng Kiều được tái hiện bằng hình khối, bằng không gian, khiến mỗi bước di chuyển của ánh nhìn cũng trở thành một hành trình đi qua số phận. “Vọng miền tơ” lại mở ra một cách tiếp cận khác – nơi văn học được đặt trong nhịp sống hôm nay. Những chuyên mục, những góc nhìn, những thử nghiệm mới khiến người đọc nhận ra rằng văn chương vẫn đang tiếp tục đối thoại với hiện tại, chứ không hề đứng yên trong quá khứ. Trong khi đó, “Dệt hồn ca dao” đi sâu vào những tầng nghĩa lặng lẽ hơn. Một cánh cò, một nhành hoa hay một nhịp cầu – tất cả đều mang theo những lớp ý nghĩa chồng xếp, phản chiếu đời sống và tâm thức của người Việt qua bao thế hệ.

Nếu phần một là dòng chảy âm thầm, thì phần hai chính là lúc con sông ấy ngân lên thành tiếng. Không còn nằm yên trên trang giấy, văn chương bước ra sân khấu – mang theo hơi thở, nhịp điệu và cả những rung động rất người. “Lời ru đất mẹ” mở ra bằng một ký ức quen thuộc đến nao lòng: tiếng ru. Từ vòng tay của mẹ, những câu hát theo bước một con người đi qua tuổi thơ, lớn lên, yêu thương và rung động. Không cần cao trào kịch tính, tiết mục chạm vào khán giả bằng chính sự chân thật và lặng lẽ của nó. Khoảnh khắc “Đêm uyên ương” cất lên là lúc “Truyện Kiều” không còn là những câu thơ để đọc, mà trở thành giai điệu để cảm. Những lời ca, những làn điệu ví dặm, những chuyển động sân khấu đã khiến câu chuyện Kim – Kiều như được “thở” lại một lần nữa – không xa xôi, không cổ xưa, mà rất gần, rất thật.

Chương trình tiếp tục mở ra một không gian mới – nơi di sản văn học được nhìn ngắm, khám phá và kết nối với đời sống đương đại trong phần “Giao thoa – Di sản trong nhịp sống”. Với chương trình Cửa sổ văn học, mở đầu là một đoạn phim ngắn về cuộc đời Nguyễn Du. Kế đó, gameshow “Tốc vấn tốc đáp” và trò chơi “Hoa Niên” – Ai thuộc nhiều câu Kiều hơn trở thành hoạt động sôi nổi và thu hút hơn bao giờ hết. Nếu Cửa số văn học là không gian văn chương tạo cảm giác rộn ràng và thư thái thì khi đến với Kiều Mộng Quán – Gieo quẻ nhân sinh là cảm giác hoàn toàn mới lạ nơi văn học chạm đến nhu cầu tâm linh, chiêm nghiệm và chữa lành. Đây là một trong những điểm nhấn sáng tạo nhất của dự án “Tiếng tơ lòng”.

“Tiếng tơ lòng” kết thúc, mở ra những suy ngẫm sâu sắc về dòng chảy văn học từ truyền thống đến hiện đại. Vượt ra khỏi khuôn khổ của buổi báo cáo dự án, “Tiếng tơ lòng” là sự kết nối giữa tri thức và cảm xúc, là nơi mỗi cá nhân tìm thấy tiếng nói chung trong một tập thể. Sự kết hợp giữa lớp 10 và lớp 11 chuyên Văn hôm nay không chỉ là sự kết hợp giữa hai lớp học, mà là sự nối dài của một mạch ngầm văn hóa: từ lời ru của mẹ đến tiếng đàn của Kiều, từ hoạ tơ tình đến dệt miền ca dao… tất cả tạo nên bản hòa ca của tâm hồn Việt. 8 sản phẩm của nhóm dự án đã thể hiện giúp các em nhận ra văn học chưa bao giờ là quá khứ mà nó là một dòng chảy – âm thầm mà bền bỉ – đi qua thời gian để ở lại trong lòng người.
Và có lẽ, “Tiếng tơ lòng” không chỉ là hành trình của văn chương, mà còn là hành trình mỗi chúng ta tìm về chính mình. Hành trình ấy đã cho chúng ta nhận ra: Văn học luôn gần gũi và đầy sức sống. Chỉ cần đủ kiên nhẫn để lắng nghe, ta sẽ thấy văn chương luôn có sức mạnh chữa lành và chạm đến trái tim theo cách riêng biệt nhất.
