Trang chủ Hoạt động chuyên môn Chuyên đề: Phong trào chống dồn dân, lập “Ấp chiến lược” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

Chuyên đề: Phong trào chống dồn dân, lập “Ấp chiến lược” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ

bởi Lịch Sử Tổ
810 views

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG DỒN DÂN, LẬP ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ (1961 – 1963)

Nguyễn Tiến Vinh[1]

  1. Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai quốc sách p chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ

Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở miền Nam nói chung và Nam Trung Bộ nói riêng sau phong trào Đồng khởi. Đến giữa năm 1961, Mỹ và chính quyền Sài Gòn bắt đầu thực hiện kế hoạch “bình định” rào ấp chiến lược, xem đây là “quốc sách” có tính quyết định đối với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Trong quá trình triển khai “quốc sách” này ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ[2], chính quyền Sài Gòn xác định Quảng Ngãi là một trọng điểm xây dựng “ấp chiến lược”, trong đó có “ấp kiểu mẫu” như Kim Sa (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh), là một trong hai ấp thí điểm trên toàn miền Nam. Tại đây, chính quyền Sài Gòn bắt hơn 10.000 dân xây dựng ấp kiên cố theo kiểu “hai sông, ba núi” trong vòng 7 ngày (Ấp được rào bằng ba lớp với dây kẽm gai và cọc sắt, 2 dãy hào sâu ở giữa các lớp rào, dưới cắm chông dày đặc).

Sau thí điểm “ấp chiến lược” ở Quảng Ngãi, Mỹ và chính quyền Sài Gòn xác định mỗi tỉnh đều có trọng điểm lập ấp chiến lược, chúng chia ấp chiến lược làm 4 loại khác nhau:

Loại 1: ở chung quanh các thị trấn, thị xã, các cơ quan đầu não, căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng.

Loại 2: nằm trên các trục lộ đường giao thông thủy bộ, các khu vực đông dân, vùng tôn giáo.

Loại 3: ở các vùng căn cứ kháng chiến.

Loại 4: ở các cửa khẩu, các vùng biên giới.

Mục đích của “quốc sách ấp chiến lược” là nhằm “tát nước bắt cá”, chia rẽ quần chúng nhân dân với lực lượng cách mạng, nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam trong đó có khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.

Trong giai đoạn từ 1961 đến 1963, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Khu ủy V thì phong trào đấu tranh chống, phá “ấp chiến lược” ở các địa phương nơi đây đã diễn ra rất quyết liệt, sôi nổi góp phần quan trọng đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với quốc sách “ấp chiến lược”.

  1. Phong trào chống dồn dân, lập ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ 1961 đến 1963

Đa bàn Quảng Ngãi – Quảng Nam: Vận dụng chủ trương của Bộ Chính trị (1 – 1961) vào hoàn cảnh cụ thể của chiến trường, Liên Khu ủy V chủ trương phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, giải phóng nông thôn đồng bằng và quyết định tổ chức trọng điểm mũi đồng bằng của Khu gồm 4 huyện: Tam Kỳ, Tiên Phước (Quảng Nam), Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), lập Đảng ủy phụ trách với mật danh 32A (Đảng ủy 32A gồm: Bí thư: Nguyễn Văn Ưng; Ủy viên: Vũ Trọng Hoàng, Chín Hoa, Đỗ Thế Chấp, Hồ Truyền, Vân, Chín Hòa) để phát động quần chúng phá “ấp chiến lược”, giải phóng vùng nông thôn, xây dựng làng chiến đấu.

Đầu năm 1961, các lực lượng vũ trang Khu, tỉnh, huyện phối hợp giải phóng thôn Tứ Mỹ (Kỳ Sanh, Tam Kỳ), phát động quần chúng nổi dậy chống dồn dân, lập “ấp chiến lược”, lập chính quyền nhân dân tự quản, đây là điểm phát động quần chúng phá “ấp chiến lược”, giải phóng nông thôn đồng bằng đầu tiên của tỉnh Quảng Nam. Ngày 27 – 10 – 1961, bộ đội tỉnh và đội vũ trang huyện Tiên Phước vượt sông Tranh giải phóng hai xã Tiên Lãnh, Tiên Ngọc (Tiên Phước) với hơn 8.000 dân. Sau chiến thắng, bộ đội ta trụ lại phát động quần chúng phá “ấp chiến lược”, xây dựng chính quyền tự quản ở xã, thôn.

Phối hợp với những hoạt động trên, các đội vũ trang tỉnh đẩy mạnh hoạt động vũ trang, xây dựng cơ sở cách mạng, diệt ác, phá lỏng tiến tới phá banh “ấp chiến lược”. Tiêu biểu ở huyện Điện Bàn, du kích huyện cải trang diệt bọn Hội đồng xã Thanh Thủy (Điện Ngọc) ngay giữa ban ngày, phá lỏng “ấp chiến lược” ở các xã thuộc Điện Hòa, Điện Tiến, Điện Thọ, Điện Ngọc.

Sang năm 1962, phong trào giải phóng nông thôn đồng bằng ở Quảng Nam tiếp tục phát triển Trước sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng, tháng 8 – 1962, quân đội Sài Gòn mở trận càn quét “Lam Sơn” đánh vào Trà My – Phước Sơn (nơi đóng cơ quan của Khu ủy V ở Nước Là, Trà My), Phước Lãnh, Phước Ngọc nhằm lập phòng tuyến ngăn chặn cách mạng xuống đồng bằng, dồn dân vào các “ấp chiến lược”. Đối phó lại, ngày 25 – 9 – 1962, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam vượt sông Tiên đánh chiếm cơ quan Hội đồng ba xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà (huyện Tiên Phước), lập chính quyền nhân dân tự quản xã thôn, xây dựng làng chiến đấu. Trên đà thắng lợi, lực lượng vũ trang tỉnh đẩy mạnh tiến công, giải phóng thêm nhiều thôn xã như xã Tiên Dương, Tiên Trà; Quế Sơn giải phóng các thôn Trà Linh, Bình Kiều, Hòa Ninh, Hòa Khương … Trong năm 1962, lực lượng cách mạng phối hợp, hỗ trợ quần chúng phá rã 41 ấp chiến lược (có ấp phá đến 6 lần), phát động quần chúng ở 244/989 thôn, 57/180 xã, lập chính quyền nhân dân tự quản ở 14 xã [11, tr.430].

Cùng với các hoạt động vũ trang, hoạt động chính trị cũng bắt đầu chuyển biến theo phương châm kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị. Ở các vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát và vùng tranh chấp, quần chúng đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, chống dồn dân vào “ấp chiến lược”, chống bắt lính, buộc chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận những yêu sách của nhân dân. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của nhân dân khu Tây huyện Duy Xuyên kéo đến khu kỹ nghệ An Hòa đòi chính quyền Sài Gòn phải bồi thường đất đai, nhà cửa bị chiếm đoạt làm khu kỹ nghệ, xây dựng “ấp chiến lược”. Tính đến năm 1963, quân dân Quảng Nam đã phá tan 94/320 ấp chiến lược, làm chủ 76/471 thôn, xây dựng được 36 làng chiến đấu, đồng thời vận động 1.460 quân Sài Gòn về với cách mạng [11, tr.436].

Ở Quảng Ngãi, từ năm 1963, phong trào chống dồn dân, lập “ấp chiến lược” có bước phát triển mạnh. Từ tháng 1 đến tháng 10-1963, quân đội Sài Gòn mở 375 cuộc càn quét với các chiến dịch “Phượng hoàng”, “Trung nghĩa” đánh vào các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long (cửa ngõ căn cứ vùng trung châu), Tân An, Vĩnh Tuy (Sơn Tịnh), Đông Sơn, Đức Phổ, Cà Ty (vùng núi nằm giữa hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh). Với thủ đoạn đánh phá quyết liệt, chính quyền Sài Gòn đã “lập được 474 ấp chiến lược với 446.000 dân ở đồng bằng, 51 ấp chiến lược ở miền núi. Hầu hết các thôn xã được giải phóng đều bị lấn chiếm lại” [12, tr.226-227].

Thực hiện chủ trương của Quân khu ủy V là các lực lượng phải bám trụ địa bàn, kết hợp ba mũi giáp công trong chống càn quét, phá “ấp chiến lược”. Tháng 4 – 1963, Tỉnh ủy quyết định mở “Chiến dịch 40”, trọng điểm là vùng Đông Bắc huyện Đức Phổ, Nam huyện Mộ Đức nhằm phá thế kìm kẹp và lập “ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn ở các xã ven biển và dọc quốc lộ 1. Đêm 23 – 4 – 1963, được tỉnh tăng cường một đại đội, quân và dân huyện Đức Phổ nổi dậy phá banh hệ thống “ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn ở hai xã Phổ An và Phổ Quang, nhân dân xã Phổ Thuận phá lỏng thế kìm kẹp của địch. Sáng 24 – 4, gần 500 dân các xã ở xung quanh huyện lỵ Đức Phổ biểu tình để hỗ trợ cho phong trào trọng điểm của huyện, huyện ủy Đức Phổ ra Nghị quyết nhằm “xốc” lại lực lượng vũ trang và chính trị nên đến năm 1963, phong trào chống, phá “ấp chiến lược” phát triển mạnh từ Phổ Thạnh, Phổ Minh, Phổ Cường, Phổ Hiệp, Phổ Nhơn, Phổ An từng bước phá lỏng, phá rã “ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn. Những thắng lợi tại Đức Phổ đã cổ vũ cho phong trào phá “ấp chiến lược” tại các địa bàn khác trong tỉnh Quảng Ngãi.

Địa bàn Bình Định: Đầu năm 1961, quân đội Sài Gòn mở hơn 60 cuộc hành quân càn quét vào căn cứ, vùng giáp ranh nhằm phá bàn đạp và hành lang của cách mạng ở Bình Định. Chính quyền Sài Gòn tăng cường bắt lính, củng cố tổ chức Liên gia và Thanh niên Cộng hòa, bắt dân phát quang, rào các vùng giáp ranh, gài mìn, dồn dân vào các xóm lẻ. Huyện ủy Phù Cát, Hoài Nhơn lãnh đạo nhân dân đấu tranh phá lỏng các “ấp chiến lược”, diệt ác ôn. Tiêu biểu ở Cát Hanh, Cát Hiệp (Phù Cát), Hoài Thanh, Bồng Sơn (Hoài Nhơn), nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị với công tác binh vận và đạt nhiều kết quả như đấu tranh trực diện chống dồn dân các xóm thôn vùng ven núi: xóm Hiệp Ba (thôn Đại Khoan, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát); Nghĩa Nhơn, Bình Sơn (xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân); Nhà Giác, Đồng Tranh (Hoài Sơn, Hoài Nhơn). Nhân dân vùng Hà Thanh (huyện Vân Canh) đấu tranh nới lỏng thế kìm kẹp và vận động được 65 dân vệ người Chăm bỏ hàng ngũ về với gia đình, các căn cứ địa được mở rộng ở các huyện An Lão, Vân Canh. Lần đầu tiên quân và dân Bình Định đã phá lỏng và phá rã “ấp chiến lược” một số vùng giáp ranh từ bắc vào nam của tỉnh ở các xã Hoài Sơn, Hoài Hảo, Hoài Thanh, Ân Nghĩa, Ân Hữu, Ân Hảo; Mỹ Trinh, Mỹ Hiệp, Cát Sơn, Nhơn Lộc, Nhơn Thọ, Phước An, Phước Thành…, bước đầu hình thành các căn cứ lõm ở một số thôn vùng sâu, tạo thế tiến công địch ở cả vùng giáp ranh và vùng sâu.

Bước sang năm 1962, Mỹ – chính quyền Sài Gòn tăng cường các cuộc càn quét ở Vĩnh Hiệp (huyện Vĩnh Thạnh), Hoài Mỹ, Hoài Thanh (huyện Hoài Nhơn), Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Hiệp (huyện Phù Mỹ), Cát Hanh, Cát Hiệp (huyện Phù Cát) hòng cưỡng bức nhân dân vào các “ấp chiến lược”. Sau khi thực hiện thí điểm “ấp chiến lược” ở xã Ân Hảo (Hoài Ân), Hoài Thanh (Hoài Nhơn), chính quyền Sài Gòn nhanh chóng triển khai ra toàn tỉnh với kế hoạch lập 200 ấp trong năm 1962. Quân dân Bình Định kiên quyết đánh trả, tiêu biểu là chiến thắng Núi Bé, Hoài Sơn (03 – 3 – 1962) mở đầu việc bộ đội địa phương sử dụng chiến thuật tiến công địch trong công sự vững chắc. Kết hợp với đấu tranh vũ trang, nhân dân nổi dậy phá rã “ấp chiến lược” ở 26 thôn thuộc huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Bình Khê. Ở Vân Canh, đồng bào thiểu số ở 6 xã kéo nhau lên quận biểu tình chống bắt lính, chống dồn dân vào “ấp chiến lược”. Tháng 6 – 1962, các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đã phá lỏng 8 ấp, tiêu biểu là cuộc biểu tình của 4.000 lượt quần chúng xã Mỹ Đức (huyện Phù Mỹ) với các khẩu hiệu chống dồn dân, lập ấp chiến lược, đòi tự do đi lại làm ăn.

Để đối phó với các cuộc tấn công mạnh mẽ, quyết liệt của quân dân Bình Định, quân đội Sài Gòn tăng cường nhiều chốt điểm mới án ngữ vùng giáp ranh, các hành lang xuống đồng bằng, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, lớn nhất là trận càn “Dân tiến” từ ngày 15 – 9 – 1962 đến 3 – 1963, quân đội Sài Gòn dùng 10 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9, chà đi xát lại một vùng rộng lớn từ tây bắc Hoài Nhơn lên Hoài Ân, An Lão và đông bắc Vĩnh Thạnh, đồng thời lập thêm nhiều “ấp chiến lược” ở cả vùng “an ninh”, tức là vùng cách mạng chưa hoạt động đến.

Trước tình thế này, Tỉnh ủy chủ trương không chỉ đưa quần chúng đốt phá hàng rào, bãi chông mà còn chống càn quét, thanh lọc dân. Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1962, quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp ở 30 thôn, phá lỏng 114 ấp chiến, trong đó có 30 ấp bị phá banh, đốt 128.700 mét rào. Tính đến hết năm 1962, đã có 67 cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng chống dồn dân vào “ấp chiến lược”, phá banh 46 ấp, phá lỏng 134 ấp, đốt hơn 200.000 mét rào, lấp hơn 7000 m hào, 3.000 cọc sắt, 5.000 kg kẽm gai bị thiêu hủy[1, tr.74].

Năm 1963, đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh ở địa phương, quân đội Sài Gòn càng tăng cường đánh phá ác liệt, hòng thực hiện cho bằng được “quốc sách ấp chiến lược”, chúng mở hơn 180 trận càn, tập trung vào huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn và bắc Phù Mỹ, sử dụng chiến thuật “trực thăng vận” để dồn dân, lập ấp chiến lược. Đến tháng 7 – 1963, chính quyền Sài Gòn lập được 460 ấp chiến lược ở đồng bằng Bình Định, dồn hơn 513.588 người (toàn tỉnh có 800.000 dân) vào các “ấp chiến lược”. Ngoài ra, chính quyền Sài Gòn còn lập thêm một số cụm ấp chiến lược liên hoàn tại những vùng xung yếu: An Đỗ (Hoài Sơn, Hoài Nhơn), Kim Sơn (Ân Nghĩa, Hoài Ân), Thạch Bàn (Cát Sơn), Long Định (Cát Hiệp, Phù Cát) nhằm ngăn chặn các hướng tấn công xuống đồng bằng của lực lượng cách mạng.

Trong năm 1963, hơn 18.620 lượt quần chúng Bình Định đã nổi dậy cùng đội công tác phá 136 ấp, trong đó có 38 ấp phá dứt điểm. Riêng các xã phía đông huyện Phù Mỹ có đến 5.462 lượt quần chúng tham gia phá 16 ấp, tức là 342 người phá 1 ấp (năm 1962, chỉ có 29 người phá 1 ấp), đốt 97.272 mét rào, 454.729 cây gỗ rào ACL, 187.000 cây chông bị phá hủy, lấp 12.580 mét hào [1, tr.78]. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh phá “ấp chiến lược” ở ấp An Giang (Mỹ Đức – Phù Mỹ). Hơn 50 ngày đêm (từ 15 – 3 đến 5 – 5 – 1963) quần chúng đấu tranh chống 1 tiểu đoàn lính Việt Nam Cộng hoà và 1 đại đội lính bảo an, đây là ấp thí điểm do đích thân tỉnh trưởng Bình Định và quận trưởng Phù Mỹ trực tiếp chỉ huy dồn dân vào “ấp chiến lược”. Đến ngày 5 – 5 1963, có lực lượng du kích hỗ trợ, quần chúng đã phá “ấp chiến lược” An Giang. Đây là chiến thắng điển hình về “ba mũi giáp công” phá ấp chiến lược ở Bình Định trong năm 1963.

Trong thời gian này, quần chúng ở 5 huyện (Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, Bình Khê) liên tiếp nổi dậy phá kẹp 54 thôn (có 22 thôn bị kẹp lại), trong đó Phù Mỹ đã phá kẹp 22 thôn với hơn 22.000 dân. Chỉ trong tháng 5 – 1963, cách mạng đã giành quyền làm chủ 37 thôn của 7 xã với 31.000 dân, tổ chức 343 cuộc đấu tranh trực diện chống gom dân vào “ấp chiến lược”. Nhân dân 2 thôn Phú Thứ, Hà Ra (Phù Mỹ) với 600 gia đình đấu tranh đòi về làng cũ. Nhân dân 4 thôn ở phía tây An Lão đấu tranh chống 1 tiểu đoàn Việt Nam Cộng hoà càn quét để lập “ấp chiến lược” suốt 1 tháng. Có 172 gia đình ở thôn Tiên Thuận, Tả Giang (Bình Giang, Bình Khê), 100 gia đình ở 2 thôn Mỹ Thuận, Lộc Khánh (Cát Thắng, Phù Cát), toàn bộ thôn Trung Tín (Phước Lộc, Tuy Phước) kiên cường chống dồn dân lập “ấp chiến lược”.

Đêm 7 – 10 – 1963, một đại đội thuộc tiểu đoàn 50 mở cuộc tập kích vào trụ sở xã Ân Tường nhằm hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá “ấp chiến lược” Phú Khương, Tân Thạnh, Long Giang, Trí Tường. Sáng hôm sau, 2 tiểu đoàn lính Việt Nam Cộng hoà có xe M113 và máy bay lên thẳng yểm trợ kéo đến phản kích. Quân dân ta đánh trả quyết liệt, loại khỏi vòng chiến hơn 150 quân địch, hạ 1 máy bay, bắn hỏng 3 xe M113. Đây là chiến thắng lớn nhất của quân dân Bình Định trong những năm 1961 – 1963 và là chiến thắng đầu tiên đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của quân đội Sài Gòn. Phối hợp với đấu tranh vũ trang, quần chúng nổi dậy phá hơn 50 ấp chiến lược, trong đó có 20 ấp bị phá banh. Lần đầu tiên khu Đông tỉnh Bình Định đã phá lỏng 2 ấp chiến lược ở phía đông huyện Phù Cát.

Tháng 11 – 1963, nhân cơ hội Mỹ ủng hộ tướng Dương Văn Minh làm đảo chính, lật đổ anh em Diệm – Nhu, chính trường Sài Gòn chao đảo, quân và dân Bình Định đẩy mạnh diệt ác ôn, phá kìm kẹp ở 101 thôn với 121.103 dân, giải phóng nhiều vùng ở Tây sông An Lão, thung lũng Kim Sơn (Hoài Ân), Nam Hoài Nhơn, Tây Phù Cát, Đông Bắc Bình Khê, giải phóng hoàn toàn 73 thôn với 75.571 dân, cao nhất Liên khu V (73/219 thôn toàn Khu) [1, tr.82]. Ở khu Đông, quần chúng nổi dậy phá “ấp chiến lược” ở Cát Khánh, Cát Chánh (Phù Cát); Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thuận (Tuy Phước). Cuối năm 1963, toàn tỉnh Bình Định đã có 283 thôn được giải phóng.

Phong trào phá “ấp chiến lược” đã huy động hơn 46.000 lượt quần chúng tham gia phá 109 ấp, trong đó có 84 ấp phá dứt điểm, cao nhất Khu V về số ấp bị phá và phá dứt điểm (toàn Khu phá 424 ấp, phá dứt điểm 175 ấp). Tiêu biểu là huyện Hoài Nhơn đã phá 84 ấp, trong đó có 38 ấp phá dứt điểm.

Địa bàn Phú Yên – Khánh Hòa: Để tăng cường dồn dân, lập “ấp chiến lược” ở Phú Yên, quân đội Sài Gòn mở chiến dịch Hải Yến, chúng huy động Trung đoàn chủ lực 47, một tiểu đoàn Biệt động, một tiểu đoàn Công binh, 4 đại đội Biệt kích, 17 đại đội Bảo an, 81 tổng đoàn Dân vệ, 40 trung đội Thanh niên chiến đấu, một chi đoàn xe M113 (20 xe), một đại đội trọng pháo với 4 khẩu 105 ly, 2 khẩu 155 ly, một chiến đoàn Bình Phú, 2 đội hải thuyền, 45 máy bay các loại đánh vào địa bàn huyện Tuy Hòa, vùng căn cứ miền Tây Sơn Hòa, miền tây các huyện Tuy An, Đồng Xuân dồn hơn 30.000 dân vào các ACL Hòn Lúp, Xuân Lãnh, Núi Miếu. … Tháng 7 – 1962, Tỉnh ủy Phú Yên ra Nghị quyết nêu cao nhiệm vụ “quyết tâm đánh bại chiến dịch Hải Yến và kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch”. Tháng 11 – 1962, Tỉnh ủy họp tại Suối Cối – Kỳ Lộ (huyện Đồng Xuân) đưa vấn đề phá “ấp chiến lược” ra thảo luận và xác định đây là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của toàn Đảng bộ và nhân dân Phú Yên. Tiêu biểu là chiến thắng tại Hòa Bình, xã Sơn Định đánh tan hai trung đội Biệt kích, bắn rơi hai máy bay trực thăng; lực lượng công binh nổ mìn phá tan hai xe GMC tại truông Bà Giêng, Sơn Định. Trong 10 tháng (từ 5 – 1962 đến 2 – 1963) chiến đấu chống chiến dịch “Hải Yến”, các lực lượng vũ trang Phú Yên đã tiêu diệt hơn 1.000 quân địch, tịch thu 184 súng các loại, phá hủy 8 đầu máy xe lửa, 19 xe quân sự, hạ 4 máy bay trực thăng, giải phóng 24 xã (8 xã đồng bằng), phá 33 ấp, đưa 55.000 đồng bào về làng cũ. Sau gần 1 tháng tiến hành chiến dịch Hải Yến, Tỉnh trưởng Phú Yên đã báo cáo trong Hội nghị ấp chiến lược Trung nguyên Trung phần ngày 30 – 5 – 1962 tại Nha Trang: “Việc thành lập ấp chiến lược ở Phú Yên nằm trong khuôn khổ được mệnh danh là “chiến dịch Hải Yến đã chia tỉnh Phú Yên ra thành ba vùng. Vùng đỏ là vùng do Việt cộng kiểm soát, vùng xanh là vùng tranh chấp, vùng vàng là vùng quốc gia kiểm soát như Đồng Tre, La Hai, Sông Cầu, Phú Tân, Tuy Hòa, Phú Lâm, Củng Sơn, Đức Bình và những vùng phụ cận. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh là vùng đỏ đất đai rộng hơn vùng xanh và vùng vàng nhưng dân số ít hơn. Hiện nay quốc gia còn kiểm soát được 148.610 người, Việt cộng kiểm soát 126.543 người, vùng xanh là vùng tranh chấp có 87.234 người. Tình hình xây dựng ấp chiến lược ở Phú Yên tính đến ngày 30 – 5 – 1962, quận Tuy Hòa dự định xây dựng 30 ấp mới hoàn thành được 2 ấp, quận Tuy an ấn định 36 ấp mới hoàn thành 5 ấp, quận Sông Cầu ấn định xây dựng 19 ấp mới xây dựng được 5 ấp, quận Đồng Xuân ấn định 10 ấp mới xây dựng được 5 ấp” 

Tại Khánh Hòa, chính quyền Sài Gòn cho quân bao vây các thôn vùng ven như: Đất Sét, Khánh Xuân, Xuân Lâm, Cẩm Sơn (xã Diên Xuân) bắt nhân dân dồn xuống vùng sâu để tạo vành đai trắng. Nhân dân đã 3 lần đấu tranh trở về làng cũ. Nhân dân các vùng giáp ranh rừng núi nổi dậy phá rào “ấp chiến lược”. Hệ thống tổ chức của Đảng bộ được giữ vững và củng cố không những ở vùng căn cứ miền núi mà còn cả ở đồng bằng, thị trấn, thị xã. Đồng thời, lực lượng quân sự, du kích tại chỗ trên khắp địa bàn tỉnh phát triển, kể cả trong các “ấp chiến lược”. Đến giữa tháng 6 – 1963, quân dân Khánh Hòa phá tan chiến dịch Thiềm Đầu Thủy của quân đội Sài Gòn nhằm rút 15.000 dân miền núi dồn về các khu tập trung ở đồng bằng; bước đầu làm thất bại một bước quan trọng “quốc sách ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn tại địa bàn Khánh Hòa.

Địa bàn Ninh Thuận – Bình Thuận:  Ở Ninh Thuận, đầu năm 1961, Tỉnh ủy Ninh Thuận chủ trương vũ trang tuyên truyền diệt ác, phá kìm, xây dựng và phát triển phong trào quần chúng, mở rộng cơ sở với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự. Ở phía nam tỉnh Ninh Thuận, Tỉnh ủy chủ trương “mở vùng”, lấy Sơn Hải làm thí điểm. Sau thắng lợi, lực lượng vũ trang tỉnh tấn công vào Cà Ná phá ấp, phá kìm. Giữa năm 1961, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục tấn công phá banh ấp Xóm Bằng, đưa một số dân về sống hợp pháp ở vùng CK19 (Am Đá Hang, Núi Chùa, Cầu Gãy).

Lực lượng cách mạng bên trong và bên ngoài kết hợp tấn công bằng ba mũi, đồng bào kiên quyết không chịu lập tề (địch lập lên ta lại phá). Tuy nhiên, đến cuối năm 1962, chính quyền Sài Gòn đã lập lại thế kìm trên các ấp mới giải phóng, làm chủ hoặc đang tranh chấp. Sau hai năm chống, phá kế hoạch gom dân lập “ấp chiến lược” của chính quyền Sài Gòn, do lực lượng cách mạng ở địa phương còn yếu, chưa hỗ trợ kịp thời cho ba mũi tiến công tại chỗ nên các “ấp chiến lược” mà ta phá đã bị địch tái chiếm, lập lại gần hết. Đến giữa năm 1963, tại Ninh Thuận, địch đã lập xong 125/127 ấp chiến lược với gần 99% dân số. Vì vậy Ninh Thuận là tỉnh mà chính quyền Sài Gòn xếp vào nhóm kiểu mẫu về xây dựng “ấp chiến lược”. Mặc dù chính quyền Sài Gòn thành công trong việc gom dân vào “ấp chiến lược” nhưng không nắm được dân, lực lượng cách mạng vẫn được bảo toàn và thường xuyên ra vào ấp để xây dựng cơ sở… Đây là điều kiện thuận lợi để lực lượng cách mạng tiếp tục chống, phá “ấp chiến lược” trong thời gian tiếp theo.

Ở Bình Thuận, tháng 6 năm 1962, Tỉnh uỷ và Ban quân sự tỉnh Bình Thuận đề ra nhiệm vụ trung tâm là chống phá ấp chiến lược trên quốc lộ 1 và liên tỉnh lộ 8, Hàm Tân. Quán triệt tinh thần trên, các huyện, thị uỷ và các đơn vị vũ trang đẩy mạnh tiến công địch. Tháng 7 – 1962, Đại đội Lê Hồng Phong cùng với bộ đội địa phương tiến công vào các ấp Rạng, Long Phú, Long Hoa diệt ác ôn, phát động nhân dân phá trên 5.000 m rào ACL ở huyện Thuận Phong; phá lỏng các “ấp chiến lược” Hiệp An, Hiệp Bình, Hiệp Thành, Hiệp Hoà (khu Lê Hồng Phong). Đại đội Hoành Sơn phối hợp với bộ đội địa phương huyện Hàm Thuận liên tục tiến công vào các “ấp chiến lược” trên đường 8 và Đại Nẫm, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá banh bộ máy kìm kẹp, phá ranh rào “ấp chiến lược”. Ngày 4 – 8 – 1962, bộ đội huyện Hàm Tân phá động quần chúng nổi dậy phá banh các “ấp chiến lược” Phong Điền, Hiệp Nghĩa, Hiệp Phước, Hiệp Trí và Hiệp Tín (xã Tân Hiệp).

Phát huy những thắng lợi đã giành được, các Đại đội 486, 489 hỗ trợ nhân dân Long Hoa nổi dậy phá “ấp chiến lược” Tà Nung, Bàu Ốc, Xa Ra, Tuỳ Hoà. Ở các huyện Hàm Tân, Hàm Thuận, Thuận Phong, Bắc Sơn và thị xã Phan Thiết, lực lượng vũ trang phá banh các “ấp chiến lược” Cây Găng, Phong Điền, Hiệp Phước, Hiệp Nghĩa, Tam Tân, Hiệp An; phá lỏng và phá rã các ấp trên đường số 8, Đại Nẫm; đánh phá các “ấp chiến lược” Cà Lon, Bá Ghe, Gia Hoà đưa một số đồng bào dân tộc về buôn, rẫy. Đến năm 1963, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ địa phương, quân và dân tỉnh Bình Thuận đã phá banh 13 ấp, phá lỏng 36 ấp chiến lược [2, tr.73-74].

  1. Kết luận

Ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, từ năm 1961 – 1963, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp quân sự là chủ yếu để mở các cuộc hành quân càn quét, triệt hạ xóm làng, nhà cửa, ruộng vườn của nông dân để buộc họ phải vào sinh sống trong các “ấp chiến lược”. Tính đến tháng 4 – 1963, ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, chính quyền Sài Gòn đã lập được 1.945 ấp trong tổng số 2.569 ấp chiến lược dự định sẽ lập.

Để chống lại chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược, từ giữa năm 1961 đến năm 1963, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp, phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đã bùng lên mạnh mẽ, có những bước tiến quan trọng với những hình thức đấu tranh sôi nổi, quy mô rộng khắp, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cuộc nổi dậy của quần chúng ở bên trong với các cuộc tấn công vũ trang từ bên ngoài vào, phong trào đã đạt được những thành tựu quan trọng. Trong năm 1963, quân và dân tỉnh Quảng Đà phá 94/320 ấp chiến lược, giành quyền làm chủ 76/471 thôn, có 36 thôn xây dựng làng chiến đấu [11, tr.436]; quân và dân tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đã tiến hành 1.524 cuộc đấu tranh, phá đi phá lại 1.876 lần ấp chiến lược, phá được 400/900 ấp chiến lược [5, tr.117]; Ở Phú Yên, quân và dân phá 33/98 ấp chiến lược, giải phóng 24 xã (có 8 xã đồng bằng) [6, tr.219]; Quân dân tỉnh Bình Thuận phá banh 13 ấp, phá lỏng 36 ấp chiến lược [2, tr.73]. Những thắng lợi trong phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ 1961 đến 1963 đã tạo nền tảng vững chắc cho phong trào cách mạng ở nơi đây phát triển mạnh mẽ trong các giai đoạn tiếp theo.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định (2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, Xí nghiệp in Bình Định.
  2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Thuận (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Thuận, Tập 2, Xí nghiệp in Bình Thuận.
  3. Hoàng Khánh (1962), Tìm hiểu quốc sách ấp chiến lược, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, ký hiệu hồ sơ số 1760.
  4. Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1992), Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  5. Nguyễn Công Thục (2006), Phong trào chống phá Ấp chiến lược 1963 – 1964, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  6. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên (1993), Phú Yên – 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 – 1975), Xí nghiệp in Tổng hợp Phú Yên.
  7. Bộ Tư lệnh Quân khu V (1989), Khu V – 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
  8. Bộ Tư lệnh Quân khu V (1989), Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
  9. Bộ Tư lệnh Quân khu V (1995), Lịch sử Khu VI kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
  10. Bộ Tư lệnh Quân khu V (1995), Lịch sử Khu VI kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
  11. Tỉnh uỷ Quảng Nam – Đà Nẵng, Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930 – 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  12. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  13. Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà (1954 – 1975), Hồ sơ về công tác ấp chiến lược tại các tỉnh năm 1962 – 1964, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu hồ sơ số 127.
  14. Phủ Tổng thống đệ nhất Việt Nam Cộng hoà (1962), Đại cương về quốc sách ấp chiến lược, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, ký hiệu hồ sơ số 21758.

[1] NCS Trường ĐHSP – Đại học Huế

[2] Duyên hải Nam Trung Bộ gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên và Ninh Thuận.